Cham   English VietnameseFrench
  
 
   Lịch sử-nền văn minh
 
   Champaka
 
   Bình luận tác phẩm
 
   Di sản văn hóa
 
   Sáng tác thơ văn
 
   Quan điểm-Diễn đàn
 
   Tin tức thời sự
 
   Nói tiếng Chăm
 

Nhịp cầu Champa

 

  • Nhịp Cầu Champa Kỳ 6
  • Nhịp Cầu Champa Kỳ 5
  • Cuộc phỏng vấn với Ban Lãnh Đạo Hội IOC-Champa và Web Champaka
  • Nhịp cầu Champa kỳ 4
  • Nhịp cầu Champa kỳ 3
  •  
    Ndem sap Cam-Video

     

  • Web Champaka Interview Gru Thanh Phu Ba ka sang bac trung hok An Phuoc - Po Klong
  • Danak dak Sap Cam interview ong Hassan Thu ka gruk padak padeng jamiyah IOC
  • Web Champaka interview ong Tai Dai An ka gruk dam dara di nagar Amerika
  • Web Champaka thực hiện cuộc phỏng vấn đặc biệt với Pgs. Ts. Po Dharma về hai biến cố sảy ra tại Văn Lâm-Việt Nam
  • Champa youth camp-08 part 4
  •  

    Văn học  
    Nội dung từ vựng Hroi-Việt trong CAM 182 và CAM 183

    Champaka 3


    Ðứng trên phương diện ngôn ngữ học, dân tộc Champa chia thành hai khối ngôn ngữ riêng biệt (57). Dân tộc Sédang, Bahnar, Katu, Stieng, Kaho, Mạ dùng ngôn ngữ xếp vào nhóm Mon-Khmer. Trong lúc đó, 6 dân tộc còn lại (Radé, Jarai, Chru, Raglai, Hroi và Chăm) dùng ngôn ngữ xếp vào nhóm Ða Ðảo (Austronesien) trong đó có dân tộc Hroi, còn gọi là Chăm Hroi.

    1. Xuất xứ từ vựng Hroi-Việt.

    Cuốn từ vựng Hroi-Việt là một tư liệu viết bằng tiếng Chăm hiện đại (akhar thrah) (58) và tiếng Việt trên cuốn vở học sinh có gạch hàng, hiện đang lưu trữ tại Viện Viễn Ðông Pháp (EFEO) ở Paris. Tư liệu này gồm hai tập, mang ký hiệu CAM 182 và CAM 183. Mỗi tập gồm 84 trang (59). Cho đến hôm nay, Viện Viễn Ðông Pháp cũng không biết ai là người thu thập tài liệu này và kể từ năm nào hai cuốn tư liệu này được lưu trữ trong thư viện của Viện (60).
    Mặt bià của CAM 182 mang một dòng tiếng Pháp : Dictionnaire Chàm Sông Cầu Phú Yên (Tự điển Chăm ở khu vực Sông Cầu, Phú Yên). Mặt bìa của CAM 183 cũng có một câu ghi chú bằng tiếng Pháp : Dictionnaire Chàm Annamite tỉnh Phú Yên Sông Cầu (Tự điển Chăm-Việt, Sông Cầu, tỉnh Phú Yên).
    Mặc dù phần ghi chú tiếng Pháp có ghi rõ, đó là Dictionnaire (từ điển), nhưng dựa vào nội dung của tư liệu này, chúng tôi không cho là tự điển, đó chỉ là một danh sách từ vựng mà thôi.
    Ðiều đáng chú ý, đó là mặt bìa của CAM 182 và CAM 183 gọi đây là tự điển Chàm-Việt chứ không phải là Hroi-Việt. Từ câu ghi chú này, người ta có thể đoán rằng cuốn từ vựng này có thể ra đời sau năm1933. Vì năm 1933, ông L. Sogny, một nhà nghiên cứu Pháp có tin tức cho biết rằng ở khu vực Phú Yên còn có một nhóm người không biết họ là ai, nhưng họ có tổ chức gia đình và tiếng nói rất gần gủi với người Chăm. Ðể kiểm chứng tin tức này, ông L. Sogny yêu cầu Bố Thuận sang khu vực này để nghiên cứu thêm. Trong bài báo cáo của mình (61), Bố Thuận cũng gọi họ là người Chăm, nhưng người Chăm nói một thứ tiếng có nhiều phần dị biệt nhất là cách phát âm, so với tiếng Chăm ở khu vực Phan Rang và Phan Rí; họ ở nhà sàn, mặt áo quần gần giống như dân tộc ở miền cao. Có chăng vì không có một tin tức chính xác tên gọi của dân tộc thiểu số ở khu vực Phú Yên, mà nhà nghiên cứu Pháp phải ghi trên bià của CAM 192 và CAM 183 với nhan đề là tự điển Chàm-Việt chứ không phải là Hroi-Việt.

    2. Tác giả của từ vựng

    CAM 182 và CAM 183 là hai cuốn từ vựng ngôn ngữ Hroi đầu tiên còn lưu trữ trong thư viện Pháp. Phải công nhận rằng, tác giả của từ vựng này là người rất am tường tiếng Chăm hiện đại (akhar thrah) và viết tiếng Chăm rất là khéo léo. Nhưng tác giả cũng là người am hiểu tiếng Việt mặc dù trong CAM 182 và CAM 183 này, người ta tìm thấy một số lỗi chính tả tiếng Việt so với quy luật chính tả hiện hành.
    Cho đến hôm nay, không tư liệu nào biết ai là tác giả từ vựng Hroi-Việt này. Họ là gốc người Chăm hay là người Hroi ? Và cũng có thể tác giả này là một chuyên gia khoa học nước ngoài biết tiếng Chăm cả tiếng Hroi và Việt.
    Theo P-B. Lafont, Po Dharma et Nara Vija (62), CAM 182 và CAM 183 là hai cuốn từ vựng do P. Mus sưu tầm cho thư viện Viện Viễn Ðông Pháp vào năm 1929-1930. Nói như thế không phải là từ vựng này viết vào năm 1929-1930 và chưa chắc ông P. Mus là tác giả của cuốn sách này, mặc dù ai cũng biết P. Mus là người thông thạo tiếng Chăm và tiếng Việt.
    Năm 1933, Bố Thuận gốc người Chăm ở Phan Rí có nhận một công tác sang tỉnh Phú Yên để nghiên cứu về dân tộc Hroi. Bài nghiên cứu này đã đăng trong tập san Bulletin des Amis du Vieux Huế (63). Có chăng chủ nhân của cuốn tự vựng này là ông Bố Thuận ? Tiếc rằng, Bố Thuận không đề cập gì đến cuốn từ vựng Hroi-Việt trong bài báo cáo của ông ta.

    3. Cách trình bày từ vựng

    Hai cuốn từ vựng CAM 182 và CAM 183 viết bằng tay. Mỗi trang chia làm hai phần. Phần bên trái là từ vựng Hroi viết bằng tiếng Chăm hiện đại (akhar thrah). Phần bên phải, tác giả cho nghĩa tiếng Việt. Mỗi đơn vị từ đều mang số thứ tự, từ số 1 đến số 1867.
    Ðơn vị từ (entrée) không sắp xếp theo mẫu tự A, B, C, D, v.v. như quy luật của từ điển hiện đại, nhưng theo phương pháp điền giả, không có chủ đề nhất định. Nhìn qua nội dung của tư liệu này, người ta có thể đoán rằng là tác giả của từ vựng này chỉ ghi chép lại những đơn vị từ xuất hiện trong trí nhớ của mình hay do người khác cung cấp cho mình. Chính vì thế, một đơn vị từ được lập di lập lại hai hay ba lần. Thí dụ, đơn vị từ brey Rb/Ô êcho, banê xuất hiện ba lần ở vị trí số 6, số 355 và số 822 trong cuốn từ vựng này.
    Ða số đơn vị từ thường được xây dựng dựa trên một chữ duy nhất, thí dụ : 6. brey Rb/Ô ? cho, ban; 8. mai ??? M ? đến, lại. Nhưng cũng có rất nhiều đơn vị từ lại được cấu tạo theo cụm từ, hay một câu nguyên vẹn. Thí dụ : 4. aoh mbaoh Oa@H Oi@H ? không thấy; 16. huec hadrei sei hV/ậ hRdE s‡ ? sợ một mình; 56. rawek lua lua rv/? lV lV ? rờ nhè nhẹ.

    4. Nội dung từ vựng

    Hai tập từ vựng CAM 182 và CAM 183 có tổng số 1867 đơn vị từ (entrée), trình bày tuần tự từ số 1 đến số 1867 không theo một chủ đề nhất định. Nhưng trên tổng số này, người ta chỉ tìm thấy có 1207 từ vựng mà thôi.
    Trong chỉ số 1207 từ vựng này, có 9 từ vựng gốc Phạn ngữ (64); 3 từ vựng gốc Ả Rập (65); 1 từ vựng gốc Kampuchea (66); 2 từ vựng gốc Mã Lai (67); 12 từ vựng của ngôn ngữ Jarai và Radé và 7 từ vựng của ngôn ngữ riêng biệt của tộc người Jarai.
    Ðiều đáng chú ý nhất đó là trên chỉ số 1207 từ vựng xuất hiện trong hai tư liệu CAM 182 và CAM 183, người ta tìm thấy có 243 từ vựng riêng biệt của ngôn ngữ Hroi. Chỉ số còn lại đó là 929 từ vựng nhóm Chamic, có nghĩa là từ thông dụng mà người ta vẫn còn dùng ở khu vực Panduranga.

    Sự xuất hiện từ vựng Phạn ngữ và Ả Rập trong ngôn ngữ Hroi không có gì là ngạc nhiên cả. Lịch sử đã chứng minh rằng, dân tộc Hroi là thành phần của thần dân Champa, một quốc gia chịu ảnh hưởng, kể từ thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên, nền văn minh Ấn Ðộ Giáo rất nặng nề và kể từ thế kỷ thứ 16, nền văn minh Hồi Giáo. Ðiều cũng cần nhấn mạnh rằng, 9 từ vựng gốc Phạn ngữ và 3 từ vựng gốc Ả Rập không chỉ dùng riêng biệt trong ngôn ngữ người Hroi, nhưng cả trong ngôn ngữ Chăm ở khu vực Panduranga.
    Dù Hroi sống rất gần gũi với dân tộc Radé và Jarai, nhưng ngôn ngữ Hroi không chịu ảnh hưởng nặng nề từ vựng của hai dân tộc anh em ở khu vực Tây Nguyên, vì người ta chỉ tìm thấy 19 từ trong cuốn từ vựng Hroi-Việt. Sự xuất hiện một từ duy nhất thuộc nhóm Mon-Khmer cũng là một điều dễ hiểu, vì dù sao, dân tộc Hroi vẫn thường liên lạc với các sắc dân nói tiếng Mon-Khmer, đó là dân tộc Sédang và Bahnar ở Tây Nguyên (68).

    Mặc dù từ vựng Hroi thuộc nhóm Chamic, nhưng cách phát âm của người Hroi có phần khác biệt với người Chăm ở khu vực Panduranga. Chính vì thế, người ta tìm thấy trong danh sách từ vựng Hroi-Việt có nhiều từ cùng nghĩa với từ Chăm, nhưng cách phát âm có phần khác nhau. Ðay là vài thí dụ điển hình:

    Hroi Phú Yên___________Chăm Panduranga
    mbaoh ? thấy____________mboh ? thấy
    brey ? cho_______________brei ? cho
    manih ? người ta_________manuis ? người ta

    Sự khác biệt này cũng có thể xuất phát từ cách phiên âm tiếng Hroi sang tiếng Chăm do tác giả của cuốn từ vựng này thực hiện. Vì nhìn qua nội dung từ vựng Hroi-Việt trong cuốn CAM 182 và CAM 183, tác giả không hề nhắc đến qui luật phiên âm tiếng Hroi sang chữ Chăm (Akhar Thrah). Sự khác biệt này là điều không thể né tránh trong văn tự của một số dân tộc không có chủ quyền quốc gia, không có một cơ quan chính thức đủ thẩm quyền để qui định lỗi chính tả và phát âm cho từng chữ một (69).
    Trên tổng số 1207 từ vựng dùng trong CAM 182 và CAM 183, người ta tìm thấy có vào khoảng 300 thuật ngữ chuyên môn liên quan đến 6 chủ đề: tổ chức gia đình, thân thể, bệnh họan, tổ chức hình sự, thiên văn thời tiết và nông nghiệp.
    Trong thuật ngữ này, không có một từ nào liên quan đến ghe thuyền hay hàng hải. Có chăng dân tộc Hroi là một cộng đồng không chuyên về nghề biển như dân tộc Chăm.


    Paris, tháng 11 năm 2003

    Tài liệu tham khảo

    (Ðây là tư liệu mà chúng tôi dùng trong bài nghiên cứu này, chứ không phải tư liệu tham khảo sơ qua không dính dáng gì với chủ đề này).

    Abd. Karim, xem Po Dharma.
    Alaudin Majid và Po Dharma (Chủ Biên), Adat Perpatih Melayu-Campa, Kementerian Kebudayaan de Pelancongan Malaysia, Kuala Lumpur, 1994.
    Aurousseau, L., Compte-Rendu de G. Maspero: Le Royaume de Champa (1910) trong BEFEO XIV-9, 1914, trang 8-43.
    Aymonier, E.,
    - 1885 “Lettre de M. Aymonier au Gouverneur de la Cochinchine sur son voyage au Binh-thuàn”, trong Excursions et Reconnaissances IX-22, 1885, trang 247-254.
    - 1889 Grammaire de la langue chame, Saigon, Imprimerie Coloniale, 1889.
    - 1890 “Légendes historiques des Chams”, trong Excursions et Reconnaissances XIV-32,1890, trang 145-206.
    Aymonier, E. và A. Cabaton A., Dictionnaire cam-fraậais, Paris, PEFEO, 1906.
    Bùi Khánh Thế, Tự điển Chăm-Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1955
    Bích Văn “Tỉnh Bình Thuận với những cổ vật và di tích lịch sử Chăm”, Vijaya 3, 2001, trang 51-59.
    C.H.C.P.I. Inventaire des Archives du Panduranga du fonds de la Société Asiatique de Paris (Pièces en caractères chinois), Travaux du Centre d'Histoire et Civilisations de la Péninsule Indochinoise, Paris, 1984.
    Cabaton, xem Aymonier.
    Chính-sách phát-triễn sắc-tộc của chính-phủ Việt-Nam Cộng-Hòa, Bộ Phát-Triển Sắc Tộc, Saigon, 1996.
    Coedes, G., Les Etats hindouisés d'Indochine et d'Indonésie, Boccard, Paris, 1964
    Dorohiem và Dohamide, Dân-Tộc Chàm Lược-Sử, Hiệp-Hội Chàm Hồi-Giáo Việt-Nam, Saigon, 1965.
    Doudart de Lagrée, L., Explorations et Missions, 1883.
    Durand, E.
    1905 “Notes sur les Chams. La Chronique Royale”, trong BEFEO V, 1905, trang 377-382.
    1907 “Notes sur les Chams. XI. Les archives des derniers rois chams”, trong BEFEO VII,1907, trang 353-355.
    Ðắc Văn Kiết “Vương phi Myỳ E (Bia-Mih Ai) một hồng nhan trinh liệt của Chiêm Thành”, Vijaya 3, 2001, trang 88-98.
    Ðại Nam Thực Lục Chính Biên và Tiền Biên, Hanoi, 1963-1965.
    Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Hanoi, 1972-1973.
    Ðại-Nam Nhất-Thống-Chí: tỉnh Phú-Yên Khánh-Hòa (quyển 10 và 11), Nha Văn-Hóa, Bộ Văn-Hóa Giáo-Dục, Saigon, 1964.
    G. Coedès, G., “Nouvelles donnâes sur les origines du Royaume Khmer”, trong BEFEO XLVIII, 1, 1912, trang 209-220.
    Gay, B., “Vue nouvelle sur la composition ethnique du Campa”, trong Actes du Séminaire sur le Campa organisé à l'Université de Copenhague le 23 mai 1987, Travaux du CHCPI, Paris, 1988, trang 49-58.
    Finot, L., Compte-Rendu de G. Maspero: Le Royaume de Champa (1928) trong BEFEO XXVIII,1928, trang 285-292.
    Haudricourt, A. G., “Les consonnes préglottalisées en Indochine”, trong Bulletin de la Société de Linguistique de Paris XLVI, 1950, trang 172-182.
    Hồng Ðức Bản Ðồ, Bộ Quốc-Gia Giáo-Dục, Saigon, 1962.
    Hickey, G. C., Sons ođ the Mountains, New Haven, Yale University Press, 1982.
    Hickey, xem Lebar.
    Hoa Ðình Sổi,
    -2000 Tiểu sử Po Klong Giray (Harivarman I), Harivarman - Deva Raja di Raja 801-850), Vijaya 2, 2000, trang 40-48.
    - 2001 “Về Po Brah và nàng Công Nương, con Po Iêu Nol Rak”, Vijaya 3, 2001, trang 109-114.
    Inrasara,
    - 1994 Văn Học Chăm, Nhà Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc, 1994.
    - 1996 Văn Học Chăm II. Trường Ca, Nhà Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc, 1996.
    - 2003 Văn Hóa-Xã Hội Chăm. Nghiên cứu và đối thọai, Nhà Xuất Bản Văn Học, Thành Phố Hồ Chí Minh, 2003.
    Lafont, P-B.
    - 1980 “Pour une réhabilitation des chroniques rédigées en cam moderne”, trong BEFEO LXVIII, 1980, trang105-111.
    - 1991 “Les grandes dates de l'histoire du Campa” trong Le Campa et le Monde malais, Publications du CHCPI, Paris, 1991, trang 7-25.
    Lafont,, P-B., Po Dharma et Nara Vija, Catalogque des manuscrits cam des bibliothèque franậais, Publication EFEO, Paris, 1977.
    Lebar F. M., Hickey, G. C., Musgrave, J. K., Ethnic groups of Mainland Southeast Asia, New haven, 1964.
    Lejosne, J. C., Journal de voyage de G. Van Wuysthođđ et de ses assistants au Laos (1641-1642), Bruxelles, 1986.
    Lingat, R., Les régimes matrimoniaux du Sud-Est de l'Asie. Essai de droit comparmé indochinois, Publication de l'EFEO, 1952.
    Mah Mod, “Ðặc điểm gia đình và thân tộc và xã hội của đồng bào Chăm”, trong Những vấn đề dân tộc học ở Việt Nam, quyễn II, 2, Viện Khoa Học Xã Hội tại Thành Phố HCM, Dân Tộc Học, 1978, trang 46-47.
    Manguin, P-Y., Les Portugais sur les côtes du Viêtnam et du Campa. Etude sur les routes maritimes et les relations commerciales (XVIe, XVIIe, XVIIIe siècles), Public. EFEO LXXXI, Paris, 1972 .
    Marrison, G. E., “The Early Cham language and its relationship to Malay”, trong Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society XLVIII-2, 1975, trang 52-59.
    Maspero, G., Le Royaume de Champa, Van Oest, Paris, 1928.
    Maurel, E., “Mémoire sur l'anthropologie des divers peuples vivant actuellement au Cambodge”, trong Mémoires de la Société d'Antropologie de Paris, số III (1892), trang 442-468; số IV, 1893, trang 459-539.
    Morice, A. “Etude sur deux dialectes de l'Indochine : Les Tsiams et les Stiengs (Cochinchine et Cambodge)” trong Revue de Linguistique et de Philologie VII, 1875, trang 347-377.
    Moussay, G., Dictionnaire cam-vietnamien-franậais, Phanrang, Centre Culturel Cam,1971.
    Moussay, G., xem Po Dharma.
    Musgrave, xem Lebar.
    Nara Vija, xem Lafont.
    Nguyễn Trắc Dĩ
    - 1970 Ðồng bào các sắc tộc thiểu số Việt-Nam, Saigon, 1970.
    - 1986 Mẫu Hệ Chàm, Nghiên Cứu Sử Ðịa, Montréal, 1986.
    Phạm-hoàng Hộ, Cây cỏ Viêtnam, 1991.
    Phan Khoang, Việt Sử : Xứ Ðàng Trong, 1558-1777, Saigon, Khai Trí, 1969.
    Po Dharma
    - 1978 Chroniques du Panduranga (Thèse EPHE), Paris, 1978.
    - 1981 Complément au catalogque des manuscrits cam des bibliothèque franậais, Publication EFEO, Paris, 1981.
    - 1983 “A propos de l'exil d'un roi cam au Cambodge”, trong BEFEO LXXII, 1983, trang 253-266.
    - 1987 Le Panduranga (Campa) 1802-1835. Ses rapports avec le Viêtnam, Public. EFEO CXLIX, Paris, 1987.
    - 1988 “Etat des dernières recherches sur la date de l'absorption du Campa par les Vietnamiens” trong Actes du sâminaire sur le Campa organisé à l'Université de Copenhague le 23 mai 1987, Travaux du CHCPI, Paris, 1988, trang 59-67.
    - 1991 “Le déclin du Campa entre le XVIe et le XIXe siècle” trong Le Campa et le Monde Malais. Actes de la Conférence Internationale sur le Campa et le Monde Malais, Berkeley, l'Université de Californie, Travaux du CHCPI, Paris, 1991, trang 47-64.
    - 1995 “Hommes et femmes au Panduranga (Campa)” trong Note sur la culture et sur la religion de la Péninsule indochinoise, L'Harmattan, Paris, 1995, trang. 199-214.
    - 1997 “Survol de l'histoire du Campa”, trong Le Musée de Sculpture cam de Da Nang, AFAO - EFEO, Paris, 1997, pp. 39-55.
    - 2003 “L'idéologie de l'Etat vietnamien et les pratiques religieux des Cam actuel de 1975 à 1988” trong Religions et Etat en Indochine contemporaine, Publication du CHCPI, Paris, 2003, trang 77-92.
    Po Dharma, G. Moussay, Abd. Karim, Nai Mai Mang Makah,Tuan Puteri dari Kelantan ? La princesse qui venait du Kelantan, Kementerian Kebudayaan, Kesenian dan Pelancongan Malaysia ? EFEO, Kuala Lumpur 2000.
    Po Dharma, xem Alaudin Majid.
    Po Dharma, xem Lafont.
    Quanch-Langlet, T., “Le cadre géographique de l'ancien du Campa” trong Actes du Séminaire sur le Campa organisé à l'Université de Copenhague le 23 mai 1987, Travaux du CHCPI, Paris, 1988, trang 27-48.
    Sakapurana, Lịch sử Chiêm Thành, Vijaya 2, 2000, trang 54-88
    Sogny, L., “Quelques renseignements sur un ilot de population supposée Cham habitant les huyên de Ðồng-Xuân et de Sơn-Hòa, province de Phú-Yên (Annam)”, trong B.A.V.H., 1937 (1), trang 72-77.
    Trần Mai An, “Vai Trò của người phụ nữ Chăm, tỉnh Bình Ðịnh trong hôn nhân và gia đình hiện nay”, trong Dân Tộc Học, Viện Dân Tộc Học, Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia, số 2-106, 2000, trang 14-17.
    Văn Món, Lễ hội của người Chăm, Nhà Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 2003.

    ***

    1 Po Dharma là Phó Giáo Sư của Viện Viễn Ðông Pháp và cũng là chủ nhiệm chương trình nghiên cứu Thế Giới Mã Lai và Thế Giới Ðông Dương của viện này ở Mã Lai.
    2 Liên quan đến lịch sử Champa, độc giả nên xem các tác phẩm sau đây: G. Maspero (1928); G. Coedes (1964); Po Dharma (1978, 1987, 1997). Liên quan đến lịch sử địa lý Champa, xem Quanch-Langlet, T. (1988).
    Năm 1965, Dorohiem và Dohamide xuất bản Dân-Tộc Chàm Lược-Sử. Ðây là một tác phẩm chứa chấp nhiều sự sai lầm, nhất là yếu tố cơ bản của lịch sử và niên đại của vua chúa Champa. Chính vì thế, độc giả nên thận trọng khi dùng tư liệu này.
    3 Xem Po Dharma (1987; 1988, trang 59-67;1991, trang 47-64); P. B. Lafont (1980, trang105-111).
    Dựa vào giả thuyết sai lầm của E. Durand (1907, trang 353-355) và không cần đọc những tư liệu lịch sử khác, Dorohiem và Dohamide (1965, trang108), biến giả thuyết sai lầm này thành văn kiện lịch sử cho rằng vương quốc Champa bị mất vào năm 1822. Nối gót Dorohiem và Dohamide, nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam lập đi lập lại sự sai lầm này mà không cần kiểm chứng lại dự kiện lịch sử.
    4 Ðôi lúc, tiểu vương quốc Kauthara chỉ là một thánh địa trực thuộc dưới quyền điều hành của Panduranga.
    5 Xem Po Dharma (1987, 1997); P-B Lafont (1991); B. Gay (1988).
    6 J. C. Lejosne (1986, trang103).
    7 B. Gay (1988, trang 49-58). Xem thêm P-B. Lafont (1991, trang 16-17); L. Doudart de Lagrée (1883); G. CƯdès (1912, trang 209-220).
    8 G. Maspero (1928, trang 191).
    9 Muốn biết thêm danh sách di tích lịch sử Champa ở khu vực Tây Nguyên, xem G. C. Hickey (1982, trang 91-107).
    10 Kiratas là tiếng Phạn không có nghĩa là người man rợ, nhưng ám chỉ dân tộc sống ở vùng cao.
    11 Dorohiem và Dohamide (1965, trang 59) cho rằng Mada là dân tộc Mạ ở khu vực Ðồng Nai. Mada trong bia đá không thể là người Mạ được, vì trận chiến này chỉ diễn ra ở cao nguyên, nằm về phía tây của Vijaya, tức là khu vực Ban Mê Thuột và Pleiku.
    12 G. Maspero (1928, trang 158).
    13 G. C. Hickey (1982); Dorohiem và Dohamide (1965).
    14 B. Gay (1988, trang 49-58).
    15 Xem G. Maspero (1928, trang 175 và tiếp theo).
    16 Po Dharma (1987, I, trang 57-79; 1997, trang 39-55).
    17 Vì không tìm ra một từ vựng khoa học chính xác, các nhà nghiên cứu thường tạm dùng thuật ngữ “tiếng Chăm” để ám chỉ tiếng nói và chữ viết dùng trong tổ chức hành chánh ở vương quốc Champa thời trứơc. Chính vì thế, tiếng Chăm ở đây không có nghĩa là tiếng nói và chữ viết của người Chăm. Theo tài liệu hoàng gia Panduranga-Champa, nhiều quan quyền gốc người Chru và Raglai cũng biết viết và đọc tiéng Chăm hiện đại này. Hiện tượng này cũng xuất hiện ở Nam Dương, vì quốc gia này dùng ngôn ngữ Mã Lai là ngôn ngữ chính thức, mặc dù đa số người Nam Dương không phải là dân tộc Mã Lai, nhưng là người Jawa, họ có tiếng nói và chữ viết riêng.
    18 Xem C.H.C.P.I. (1984).
    19 E. Aymonier (1890) và E. Durand (1907) là hai tác giả đầu tiên tự phỏng đoán rằng Po Saong Nhung Ceng, vua cuối cùng trong Sakkarai Dak Rai Patao (Biên niên sử Champa) là người chạy sang Kampuchea lánh nạn vào năm1822. Dorohiem và Dohamide cũng lập lại sự phỏng đoán của E. Durand trong tác phẩm của ông ta (1965, trang 108). Ðây là lý thuyết sai lầm. Vì biên niên sử Việt Nam đã khẳng định là Po Saong Nhung Ceng (tên Việt Nam là Nguyễn Văn Chấn) đã từ trần ở Phan Rí vào năm 1822 vì lý do già yếu (Po Dharma, 1987, 1, trang 90). Dựa trên yếu tố này, Po Dharma (1983, trang 253-266) cho rằng vua bỏ ngôi sang lánh nạn ở Kampuchea là vua Cei Brei (cũng gọi là Po Ceng) vào năm 1786 chứ không phải là Po Po Saong Nhung Ceng. Mãi đến năm 1795, vua Cei Brei mới đến khu vực Kompong Cham của Kampuchea.
    Ngược lại, Inrasara (1994, trang 18) dựa theo tác phẩm Po Dharma (1987, trang 122-123) cho rằng Po Saong Nhung Ceng chạy sang Kampuchea vào năm 1822. Tiếc rằng, Po Dharma (cũng số trang đó) không nói gì đến vua Po Po Saong Nhung Ceng, nhưng ngược lại trong tác phẩm này (1987,1, trang 90) Po Dharma nói là vua này đã chết ở Phanri vào năm 1822. Có chăng Inrasara chưa bao giờ đọc tác phẩm của Po Dharma ? Ðây là cách làm việc khoa học thiếu nghiêm túc mà độc giả thường gặp trong một số tác phẩm xuất bản ở Việt Nam liên quan đến Champa.
    20 Po Dharma (1978, 1987).
    21 B. Gay (1988, trang 49-58).
    22 Xem Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư (1972-1973); Ðại Nam Thực Lục Chính Biên và Tiền Biên (1963-1965).
    23 Chiêm Thành là từ phiên âm của thuật ngữ tiếng Phạn Champapura, có nghĩa là “Thành Phố Champa hayThủ Ðô Champa”.
    24 Xem P-Y. Manguin (1972).
    25 E. Aymonier (1885, trang 247-254).
    26 Biên niên sử này đã được nghiên cứu bởi Po Dharma trong luận án cao học của ông ta ở đại học Sorbonne (1978).
    27 E. Durand (1905, trang 377-382).
    28 P-B. Lafont (1980, trang105-111).
    29 L. Finot (1928, trang 285-292); E. Maurel (1892, 1893); L. Aurousseau (1914).
    30 L. Finot (1928, trang 285-292).
    31 Sự nhầm lẫn nguồn gốc tiếng Phạn và tiếng Chăm liên quan đến một số địa danh này vẫn thường xuất hiện trong các tác phẩm xuất bản ở Việt Nam. Trong tự điển Chăm-Việt của Bùi Khánh Thế (1995, trang 419), tác giả cho rằng Panrang (xứ Phan Rang) cũng viết là Panduranga, Pandarang, Phun Darang. Ðây là một quan điểm sai lầm. Vì Panrang là danh từ địa phương ám chỉ cho khu vực Phanrang hôm nay. Còn Panduranga là từ vựng gốc tiếng Phạn ám chỉ cho tiễu vương quốc Champa ở miền nam bao gồm cả khu vực Phan Rang, Phan Rí. Ngược lại, Pandarang là từ Chăm hiện đại (akhar thrah) phiên âm từ Panduranga của tiếng Phạn ra. Cuối cùng, Phun Darang, tức là từ xuất phát trong câu 9 của Ariya Gleng Anak, không phải là tên địa danh, nhưng là cây điên điển. Cách giải thích Phun Darang ? Pandarang của nhóm Bùi Khánh Thế phát xuất từ định nghĩa sai lầm trong tác phẩm Văn Học Chăm II của Inrasara (1996, Ariya Gleng Anak, trang 143).
    32 F. M. Lebar, G. C. Hickey, J. K. Musgrave (1964). Tiếc rằng ba tác giả này chỉ nói đến ngôn ngữ Chamic ở đồng bằng và ngôn ngữ Chamic ở cao nguyên, chứ không phải người Chàm ở đồng bằng và người Chàm ở cao nguyên.
    33 Chamic là thuật ngữ khoa học nhằm ám chỉ ngôn ngữ thuộc gia đình đa đảo (Austronesian) còn dùng ở khu vực Ðông Dương, chứ không phải thuật ngữ nói về nguồn gốc nhân chủng của một dân tộc. Người Jarai nói một thứ tiếng được xếp vào gia đình Chamic, nhưng người Jarai không phải là người Chăm.
    34 B. Gay (1988, trang 49-58).
    35 Po Dharma (1987). Xem thêm Phan Khoang (1969).
    36 Ngược lại, các dân tộc Champa sống ở miền Panduranga và tất cả những tư liệu cổ viết bắng tiếng Chăm hiện đại (akhar thrah) còn lưu lại trong khu vực Panduranga, cũng không còn nhớ đến một kỷ niệm gì, dù là địa danh hay biến cố lịch sử, liên quan đến khu vực miền bắc chạy dài từ Bình Ðịnh đến Quảng Bình.
    Một số tác gỉa vì không am hiểu yếu tố lịch sử liêng bang Champa thường biến danh nhân lịch sử ở tiểu vương quốc Panduranga thành danh nhân lịch sử ở thủ đô Vijaya, trong đó có Inrasara (1994, Văn Học Chăm, trang 296-297) cho rằng Harek Kah Harek Dhei ở Quảng Bình; Inrasara (1994, trang 314-315), Ðắc Văn Kiết (2001, trang 88-98) cho rằng Bia Mih Ai trong tác phẩm Nai Mai Mang Makah là vương phi Myỳ E ở Vijaya; Bích Văn (2001, trang 51-59) cho rằng Po Kabrah ở Panduranga là vua Trà Toàn ở Vijaya, hay Po Dam được thờ phụng ở Phan Rí là vua Trà Duyệt ở Bình Ðịnh; Hoa Ðình Sổi (2001, trang 109-114) cho rằng công chúa Po Sah Ina ở Panduranga là thứ hậu của vua Lê Nhân Tông ở Ðại Việt; Yassin Ba (1999, trang 124) viết là người Chăm xây đền để thờ vua Chế Bồng Nga ở làng Bính Nghĩa (Bal Riya); Hoa Ðình Sổi (2000, trang 40-48) tự gán cho vua huyền thoại Po Klaong Garay ở Panduranga là vua Harivarman I đóng đô ở Bình Ðịnh; Sakapurana (2000, trang 57) tự định nghĩa lãnh thổ miền bắc Champa kéo dài đến Hà Nội. Tiếc rằng, đây chỉ là một cốt chuyện hoàn toàn do các tác giả này phỏng đoán mà thôi. Vì không có một tư liệu lịch sử nào nói đến chuyện này.
    37 Hiện tượng này cũng đã xảy ra ở một số quốc gia Nam Mỹ. Thí dụ cụ thể đó là dân tộc Á Cân Ðình vì bị Tây Ban Nha đô hộ và đồng hóa, họ không biết đâu là nguồn gốc dân tộc và tiếng nói mẹ đẻ của họ nữa.
    38 L. Finot (1909, trang 205-209); G. Maspero (1928, trang 137); Po Dharma (1987, 1, trang 59).
    39 P-B. Lafont (1999, trang 47).
    40 Theo Nguyễn Trắc Dĩ (1970, trang 72), còn có vào khoảng 2.000 người Hroi định cư ở quận Buôn Hô, tỉnh Darlac.
    Ðịa danh ở Việt Nam là một vấn đề vô cùng phức tạp vì thường bị thay đổi tùy theo thể chế chính trị hay quy chế hành chánh. Vì không đủ tư liệu liên quan đến các địa danh mới xuất hiện sau năm 1975, chúng tôi xin tạm dùng trong bài nghiên cứu này các tên địa danh dưới thời Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975).
    41 Hồng Ðức Bản Ðồ (1962, trang 100).
    42 Ðại Nam Nhất ThốngChí (1964, trang 19).
    43 Phạm-hoàng Hộ, 1991.
    44 Inrasara (1994, trang 296-297). Nhằm bảo vệ cho sự sai lầm của mình, Inrasara (Văn Hóa Xã Hội Chăm, 2003) cho rằng nhóm nghiên cứu của Viện Viễn Ðông Pháp ở Kuala Lumpur (ám chỉ Po Dharma, G. Moussay, Abd. Karim, tác giả nghiên cứu về tác phẩm Nai Mai Mang Makah) là những người “hạn chế về kiến thức, nhất là không hiểu bản chất văn học nên đã xảy ra nhiều sai lầm đáng tiếc như nhằm lẫn giữa hư cấu và hiện thực, giữa địa danh lịch sử với địa danh văn chương... Từ đó dẫn tới những nhận định lệch lạc tai hại. Uổng ! “ (trích trang 22, Văn Hóa Xã Hội Chăm,của Inrasara). Ðây là một văn chương của một nghệ nhân viết lách chứ không phải là lý luận của một nhà khoa học. Không thể kết tội nhà khoa học là người “hạn chế về kiến thức”, vì họ không đồng quan điểm với mình hay họ có đủ bằng chứng để chỉnh đốn dự kiện sai lầm của mình.
    Ai cũng biết, tác phẩm Nai Mai Mang Makah (hay Ariya Bani-Cham trong tác phẩm Văn Học Chăm của Inrasara) thường nhắc đến địa danh Harek Kah Harek Dhei, nhưng tác phẩm này không cho biết nơi chốn của địa danh này ở đâu. Tại sao Inrasara cho rằng Harek Kah Harek Dhei phải nằm trong tỉnh Quảng Bình nhưng không cho biết lý do tại sao ? Cũng trong tác phẩm này, người ta còn tìm thấy một danh xưng nữa đó là Bia Mih Ai, gốc Bal Riya (làng Bính Nghĩa, Phan Rang), tức là công chúa của tiểu vương quốc Panduranga. Trên cơ sở nào Inrasara cho rằng Bia Mih Ai phải là công chúa Mi Ê, dưới thời vua Champa Jaya Sinhavarman II (Sạ Ðẩu) ở tiểu vương quốc Vijaya, nhưng Inrasara cũng không đưa ra một dự kiện lịch sử nào để chứng minh cho quan điểm của mình ? Có chăng đây là sự phỏng đoán phi khoa học !
    Ðọc qua lời bình luận không có cơ sở khoa học này, độc giả có cảm tưởng rằng tác giả Inrasara là người không am tường về yếu tố lịch sử và văn học Champa để rồi biến chế sự sai lầm thí đúng hơn. Vì rằng tác giả không nhận diện được đâu là lịch sử của tiểu vương quốc Panduranga ở miền nam, đâu là là lịch sử của tiểu vương quốc Vijaya ở miền bắc trong thể chế liên bang Champa.
    Cách dùng thuật ngữ “hạn chế về kiến thức” hay “Uổng !” để ám chỉ cho giới khoa học Pháp là người thiếu trình độ đã đưa độc giả đặt bao nghi vấn có chăng đây là văn chương chính trị của Xã Hội Chủ Nghĩa nhằm chống lại các nhà khoa học không cùng quan điểm chính trị với nhà nước Việt Nam hiện hành, chứ không phải là phong cách viết văn của nhà khoa học thật sự..
    45 Chúng tôi biết là một tác phẩm viết về Hroi đã xuất bản ở Việt Nam sau năm 1990. Nhưng vì tình hình chính trị, chúng tôi không có phương tiện để tham khảo nội dung sách này.
    46 L. Sogny (1937, trang 73).
    47 L. Sogny (1937, trang 77).
    48 Xem Nguyễn Trắc Dĩ (1970, trang 72). Xem thêm L. Sogny (1937, trang 73).
    49 Nguyễn Trắc Dĩ (1970, trang 72).
    50 Nguyễn Trắc Dĩ (1970, trang 72). Xem thêm L. Sogny (1937, trang 74).
    51 Sogny, L. (1937, trang 72-77).
    52 Bửu Lịch, Nhân chủng học và lược khảo dân tộc, Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1970, trang 343 (do Inrasa trích dẫn).
    53 Inrasara (2003, trang 41).
    54 Chính vì hiểu sai lầm như Inrasara về mẫu hệ người Chăm, Mah Mod (1978, trang 46-47) đề nghị sửa đổi quy chế này cho phù hợp với chính sách Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam. Theo Po Dharma (2003, trang 77-92), không vì trung thành với chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà một số cán bộ nhà nước đề nghị thay đổi quy chế mẫu hệ của dân tộc Champa thành chế độ phụ hệ như người Việt.
    55 R. Lingat (1952).
    56 Xem Po Dharma (1995, trang. 199-214).
    57 Liên quan đến khái niệm ngôn ngữ ở Champa, xem A. G. Haudricourt (1950, trang 172-182); G. E. Marrison (1975, trang 52-59); A. Morice (1875, trang 347-377).
    58 Liên quan đến chữ viết Chăm, xem E. Aymonier (1889); E. Aymonier và A. Cabaton (1906); G. Moussay (1971).
    59 Nội dung của CAM 182 và CAM 183 đã được mô tả trong tác phẩm của Po Dharam, Complément au catalogque des manuscrits cam des bibliothèque franậais (Paris, 1981, trang 30).
    60 Po Dharma (1981).
    61 L. Sogny (1937, trang 72-77).
    62 P-B. Lafont, Po Dharma et Nara Vija (1977, trang 4).
    63 L. Sogny (1937).
    64 gana gN [Phạn: ga?a] ? lính, quân đội; gru RgU [Phạn: guru] ? thầy; guy gUÔ [Phạn: guna]? quyền; hadai h??? d, adai a??? w [Phạn: saÈdhi] ? ở chung; kal kỊ [Phạn: kala] ? thuở xưa; manih MnH [Phan: mỉnuỊa] ? người, nhân loại; rap r? [Phạn: rỉpa] ? thân thể; yawa yv [Phạn: jiwa] ? hơi, tiếng; yuen yV/ˆ [Phạn: yavana] ? người Việt.
    65 alak al? [Ả Rập, Mã Lai: arak] ? rượu; kanaik??? N [Ả Rập, Mã Lai: serunai] ? kèn; patap pt? [Ả Rập, Mã Lai: kitab] ? sách kinh thánh.
    66 nyam Z* [Kampuchea]? ăn.
    67 angan aQˆ, ngan Qˆ [Mã Lai: ringgan] ? của cải; tapur tpUỊ [Mã Lai: dapur] ? bếp.
    68 L. Sogny (1937, trang 73) cũng xác minh rằng có nhiều thôn ấp người Bahnar sống xen kẻ với người Hroi ở hai huyện Ðồng Xuân và Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
    69 Ngay cả nước Mã Lai, một quốc gia giàu mạnh ở khu vực Ðông Nam %Á, có một cơ quan chính thức nhằm kiểm soát chặt chẽ cách phát âm và qui luật chính tả, nhưng dân Mã Lai vẫn còn theo thói quen với cách phát âm địa phương của mình và dùng qui luật chính tả theo cách phát âm của mình.
    37 Dominique Nguyen


    Dominique Nguyen
    Chương trình Thế Giới Mã Lai - Ðông Dương


    Các tin khác:

    Trở về đầu trang

     

     

    Ngày 04/09/2010
    Giới thiệu sách báo
    Về chúng tôi/qui chế